Thứ Tư, 27 tháng 11, 2019

Món ăn từ củ cải trắng giúp trị bệnh hô hấp

Củ cải trắng có tên thuốc là la bạc tử hay lai phục tử, la bặc tử, rau lú bú… Tên khoa học Raphanus sativus L. Thuộc họ cải Brassicaceae hay chữ thập (Crucifereae), được trồng phổ thông khắp nước ta.

Trong 100g củ cải có năng lượng 17kcal, nước 95,04g, protein 0,67g, chất béo 0,24g, carbohydrate 3,43g, đường tổng số 1,83, chất xơ 1,6g; chất khoáng như: canxi (Ca) 17mg, sắt (Fe) 0,15g, magiê (Mg) 9mg, phốt pho (P) 24mg, kali (K) 285mg, sodium (Na) 249mg, selenium (Se) 0,7mg, vitamin C 15,1mg, niacin (vitamin B 3 ) 0,15mg, folate 17mg, choline 6,8mg.

Theo Đông y, la bặc tử (hạt củ cải) vị cay ngọt, tính bình. Vào kinh tỳ, vị và phế. Có tác dụng đưa hơi đi xuống (giáng khí), trừ đờm; ngoại giả, còn có tác dụng tiêu thực (giúp tiêu hóa). Địa khô lâu (củ cải phơi khô) có tác dụng lợi niệu, tiêu thũng, lưu thông hơi ở phổi; kiện tỳ tiêu thực, hạ khí hóa đàm, hóa tích khoan trung, sinh tân giải độc. Dùng cho các trường hợp đầy bụng không tiêu, viêm khí phế quản ho nhiều đờm, khản tiếng; thổ huyết chảy máu cam, bệnh đái tháo đường và hội chứng lỵ.

Củ cải trắng

Dưới đây là một số cách dùng củ cải chữa bệnh:

Chữa ho: củ cải trắng 1kg, quả lê 1kg, gừng tươi 250g, sữa 250g, mật ong 250g. Cách làm: lê gọt vỏ, bỏ hạt; củ cải, gừng tươi rửa sạch thái nhỏ. Cho từng loại vào miếng vải thô sạch để vắt nước, xong để riêng. Đổ nước củ cải, nước lê vào nồi, nấu đến sôi thì bớt lửa lại, nấu tiếp cho đến khi đặc dính thì cho nước gừng, sữa, mật ong vào quấy đều và đun sôi lại. Khi nguội cho vào lọ đậy kín dùng dần, mỗi lần một thìa canh pha vào nước nóng để uống, ngày 2 lần.

Chữa viêm họng: củ cải tươi (1 - 2 củ), một ít đường phèn (hoặc thay bằng mật ong). Cách làm: củ cải cạo vỏ, rửa sạch, cắt dạng sợi, đem trộn với đường phèn, cho vào hũ để qua đêm cho ra nước rồi chắt lấy nước này uống. Cứ khi nước ra, lại chắt lấy nước, làm liên tiếp vài ngày.

Chữa người già bị viêm phế quản mãn tính: hạt cải củ sao 12g, hạt tía tô 12g. Sắc uống trong ngày. Hay lấy củ cải hầm bì sứa: bì sứa 120g, củ cải 60g. Thêm nước và gia vị, hầm nhừ chia ăn 2 lần trong ngày.

Chữa viêm phế quản mãn tính, ho nhiều đờm: hạt cải củ sao 12g, hạnh nhân 12g, cam thảo sống 8g. Sắc uống.

Dùng cho trường hợp khản giọng, mất tiếng, nôn ói, loét miệng: củ cải, gừng tươi liều lượng tùy ý, ép lấy nước chia ra cho uống tản mát ít một trong ngày để ngậm và nuốt từ từ. Có thể trộn cùng nước giá đậu xanh cũng rất hay.

Chữa các trường hợp hư nhược, viêm khí phế quản, ho suyễn: dùng món canh thịt dê, cá diếc, củ cải. Cụ thể thịt dê 100g, cá diếc 1 con, củ cải 60g. Thêm nước và gia vị nấu canh lẩu, ăn nóng.

Chữa các trường hợp suyễn, viêm khí phế quản kinh niên, cảm sốt ho nhiều đờm dùng nước ép củ cải hấp đường phèn: củ cải tươi (hoặc luộc chín) 500g. Ép lấy nước, thêm đường phèn lượng phù hợp cho uống, ngày 1 lần.

Chữa tiêu hóa kém, mồm hôi, bụng trướng, đại tiện khô: hạt cải củ sao 12g, chỉ xác 8g, thần khúc sao sém 16g. Sắc kỹ uống trong ngày.

Chữa lỵ đau mót đi ngoài: hạt cải củ 12g, tỏi 1 củ. Hạt cải củ nghiền thành bột, tỏi củ giã nát ép lấy nước. Uống bột thuốc và nước tỏi với nước đun sôi còn nóng.

Chữa trường hợp đầy bụng không tiêu do ăn uống quá nhiều các loại bánh kẹo, đường, mỡ làm món cháo củ cải: gạo tẻ 100g, củ cải 50g. Củ cải thái lát cùng gạo nấu cháo, thêm chút muối cho ăn.





Chữa các trường hợp ỉa xuất huyết rỉ rả liên can đến trĩ và uống rượu dùng món củ cải hầm nước gừng: củ cải (cả lá và cuống) 20 củ. Rửa sạch thái lát nấu nhừ, thêm mấy lát gừng, bột gạo, ít dấm, đun sôi để vừa nguội cho ăn.

Dùng cho người lao phổi, giãn phế quản: củ cải trắng hoặc xanh 1kg, thịt dê (hoặc cừu) 500g, hành, gừng tươi, rượu trắng, gia vị. Cách làm: thịt dê bóc màng lọc gân, rửa sạch, cắt miếng nhỏ rồi đem trụng nước sôi, vớt ra rửa sạch để ráo nước, rồi ướp hành, gừng, rượu trắng và cho vào nồi với lượng nước vừa dùng, nấu sôi. Củ cải cạo vỏ rửa sạch, cắt miếng nhỏ, trụng nước sôi vớt ra, cho vào nồi nấu thịt dê đang sôi, nấu cho chín mềm, nêm nếm gia vị.

Trị đau do sỏi mật: củ cải tươi đem thái thành từng miếng dày, rồi đem tẩm cho thấm mật ong. Sau khi tẩm, đem sấy khô, dùng củ cải đã tẩm sấy này.

Đái tháo đường: củ cải 200g, gạo tẻ 50g và một ít nếp đem nấu cháo. Dùng lúc cháo nóng, ngày 2 lần.

Kiêng kỵ: hạt cải củ có thể hao phí khí (sức lực) nên người sức yếu (bạch đái) không bị đầy tích, đờm trệ đọng thì cấm uống. Người tỳ vị hư hàn nên hạn chế dùng củ cải.

BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI

Bài thuốc cho bệnh nhân trào ngược dạ dày - thực quản

Dung dịch axit này có thể gây kích ứng niêm mạc thực quản của người bệnh. Rất nhiều người có triệu chứng của trào ngược dạ dày thực quản với các mức độ khác nhau. Từ chừng độ nhẹ xảy ra một lần một tuần, hoặc trào ngược axit trung bình đến nặng xảy ra chí ít ≥từ 2 lần tuần.

Các triệu chứng thường gặp là

- Ợ nóng : cơn nóng rát ở ngực, bắt đầu từ phía sau xương ức và di chuyển về phía cổ, họng. Ợ nóng nhiều hơn khi cúi gập người và khi nằm.

- Cảm giác thức ăn hoặc nước trào ngược lên cổ họng hoặc miệng, đặc biệt là khi cúi hoặc nằm xuống. Điều này có thể để lại vị đắng (do trào ngược dịch mật) hoặc vị chua (do trào ngược dịch vị) trong miệng.

- Một số triệu chứng ít phổ thông hơn, bao gồm đau họng dai dẳng, khàn tiếng, ho mạn tính, khó nuốt hoặc nuốt đau, hen suyễn, đau ngực không giảng giải được, hơi thở hôi, cảm giác một khối u trong cổ họng.

nguyên nhân gây trào ngược bao tử - thực quản: Có các duyên do thực từ quản, từ dạ dày và các ảnh hưởng từ cơ quan khác trong thân thể.

nguyên nhân do thực quản: Suy cơ thắt dưới thực quản: Các nguyên tố gây suy cơ thắt thực quản: Rối loạn nhu động thực quản, giảm tiết nước miếng (hút thuốc lá...), các thuốc kích thích thụ cảm, ức chế , kháng tiết choline, theophylline, các chất cafein, rượu, thuốc lá, chocolate hay thức ăn nhiều mỡ; thoát vị hoành.

duyên cớ tại dạ dày: ứ lại thức ăn tại bao tử (viêm bao tử, ung thư bao tử, hẹp môn vị... làm cho các chất trong dạ dày chậm lưu thông xuống ruột từ đó làm tăng áp lực trong bao tử). áp lực ổ bụng tăng đột ngột: Khi ho, nhảy mũi hoặc gắng sức cũng có thể là duyên do trào ngược bao tử thực quản.

Một số căn do khác: Stress làm tăng tiết cortisol (cortisol làm tăng axit trong dạ dày), stress làm rối loạn nhu động thực quản. nếp ăn uống không lành mạnh: Ăn quá no, ăn đêm, ăn hoa quả có tính axit (cam, chanh...) khi đói, ăn đồ ăn nhanh, chiên rán...; béo phì; có thai; lạm dụng thuốc kháng sinh…

Những nhân tố bẩm sinh: Cơ thắt thực quản dưới yếu, bệnh nhân bị sa dạ dày, hay có thoát vị cơ hoành, chấn thương tai nạn... Ở trẻ nhỏ là sinh lý bình thường với triệu chứng điển hình là nôn trớ.

Bài thuốc cho bệnh nhân trào ngược dạ dày - thực quản

Theo y học cổ truyền, bệnh trào ngược dạ dày - thực quản có các triệu chứng thuộc chứng vị quản thống. Bệnh sinh do 2 nhóm căn nguyên:

- Ngoại nhân: Hàn, thấp tà. Hàn tà, ăn thức ăn sống lạnh làm cho vị bị hàn, gây đau thường thấy biểu hiện tỳ vị hư hàn.

- Nội nhân: Ẩm thực thất điều (ăn đồ sống lạnh, ăn uống thất thường...); tình - chí uất kết (lo lắng, suy nghĩ, tức giận thái quá kéo dài). Ăn uống thất thường, ăn nhiều thức béo ngọt làm thấp nhiệt sinh ra ở vị hoặc thức ăn không tiêu hóa được tích lại gây đau, miêu tả đau do nhiệt hoặc thực tích, trùng tích. Hàn tà, hoặc thấp nhiệt, hoặc ăn uống thất thường lâu ngày làm ngăn cản công năng của tỳ vị, can mộc tương thừa mà sinh bệnh, lâu ngày khí huyết suy kém đưa đến tỳ vị hư hàn; Do tình chí thất điều (tức giận, buồn bực thái quá kéo dài) làm việc sơ tiết của can khí bị rối loạn. Can khí hoành nghịch làm vị hoặc trệ hoặc nghịch không thông; gây ra đau tả can vị bất hòa hoặc can khí phạm vị.

Như vậy dù nảy là nguyên do nào, cũng dẫn đến vị, can, tỳ bị tổn thương. Các tạng này ảnh hưởng lên nhau phối hợp với duyên cớ gây bệnh và thể trạng - cơ địa của người bệnh:

Các bệnh cảnh lâm sàng và điều trị

1. Đau thượng vị do hàn tà: Cảm nhiễm ngoại hàn hoặc ăn thức ăn sống lạnh.

Pháp trị: Tán hàn chỉ thống.

Bài thuốc: Lương phụ hoàn (cao lương khương, hương phụ); bán hạ hậu phác thang (bán hạ, hậu phác, tử tô, phục linh, sinh khương).

2. Đau thượng vị do thức ăn đình trệ:

Pháp trị: Tiêu thực đạo trệ.

Bài thuốc: Tiêu thực thang (vỏ bối, trần bì, la bặc tử, chỉ thực, vỏ rụt).

3. Can khí phạm vị (can vị bất hòa).

Khí uất:

Pháp trị: Sơ can lý khí.

Bài thuốc: Điều khí thang (hương phụ, thanh bì, vỏ rụt, chỉ xác, ô dược, trần bì); bình vị tán (thương truật; trần bì, hậu phác; cam thảo); sài hồ sơ can tán (sài hồ, thược dược, chỉ xác, hương phụ, cam thảo, xuyên khung).

Hỏa uất:

Pháp trị: Sơ can, tiết nhiệt, chỉ thống.

Bài thuốc: Tiêu dao tán gia vị (sài hồ, đương quy, bạch truật, bạch thược, bạch linh, chích thảo, gia thêm uất kim, hương phụ); hoàng cầm thang gia giảm (hoàng cầm, thược dược, cam thảo, đại táo).

Tỳ vị hư hàn:

Pháp trị: Ôn trung tán hàn, chỉ thống.

Bài thuốc: Hương sa lục quân (đảng sâm, bạch truật, bạch linh; cam thảo; trần bì; bán hạ; mộc hương; sa nhân); huỳnh kỳ kiến trung thang (hoàng kỳ, sinh khương, cam thảo; hương phụ, quế chi, bạch thược, đại táo, cao lương khương, di đường).

Một số bài thuốc nam thường dùng

- Bài thuốc ta: Hương phụ (cỏ cú): 08g; cúc tần 8g; thủy xương bồ (bồ bồ) 8g; mã đề 12g; nghệ vàng 6g. Trên lâm sàng có tác dụng làm giảm cơn đau nóng rát ợ chua.

- Mai mực 40g; cam thảo 24g; bối mẫu 12g.

- Đởm kim hoàn: Bột nghệ 32%; bột trần bì 32%; bột mật heo 32%; thỏ ty tử 4%.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

Tinh hoa Võ kinh

sang trọng nhiều biến cố vẫn khẳng định giá trị độc đáo của mình như một “đặc sản” tinh túy của dân tộc. Đặc biệt, có hai phái võ còn vươn ra thế giới khẳng định vị thế đó là Võ kinh Vạn An Phái (ở phường An Đông, TP.Huế, Thừa Thiên-Huế) và Phái võ họ Hồ (hay còn gọi là phái võ Hồ Ngạnh ở Tây Sơn, Bình Định). Với những cao thủ từ xa xưa, luyện võ cũng là luyện tính trượng nghĩa, bao dung, giải trừ những điều xấu quanh mình.

Việc nghĩa khăng khăng phải làm

Ít năm trước, khi còn minh mẫn, chưa vĩnh viễn giã biệt dương gian, bà Trần Thị Vui, một trong những cung tần rốt cuộc của triều đại nhà Nguyễn hay say xưa kể: Các cẩm y vệ sau khi được tuyển vào cung vua sẽ được đưa đi đào tạo những thế võ mà chỉ có nhà vua và thầy dạy võ mới được biết tỉ mỉ. Các thị vệ này phải sang những kỳ sát hạch rất nghiêm khắc để chứng minh lòng trung thành với cung cấm.

Chưởng môn Võ kinh Vạn An Phái, Trương Quang Kim diễn lại một thế võ cổ truyền độc đáo.

Chưởng môn Võ kinh Vạn An Phái, Trương Quang Kim diễn lại một thế võ cổ truyền độc đáo.

Ở thời đại phong kiến, võ cựu truyền Vạn An Phái có tên gọi là Võ kinh. Võ này dùng cả trong việc thi tấn sĩ võ, được truyền thụ, giữ gìn, phát triển cho tới hiện tại. Từ lúc hình thành, thuyết giáo: “Điều thiện dứt khoát phải làm. Điều ác dứt khoát loại bỏ. Giúp người thế cô” đã được từng võ sĩ, thị vệ khắc ghi.

Võ sư Trương Ngọc Giai là người tạo nền móng cho phái võ học dân tộc này. Vượt qua nhiều cuộc tỉ thí khắc nghiệt, gay cấn, võ sư Trương Ngọc Giai được chọn lọc làm Đội trưởng đội cẩm thị vệ hoàng cung thời vua Tự Đức.

Từ khi hình thành, môn võ kinh luôn hướng đến việc đào tạo nên các thị vệ có thể đi nhanh như gió, xuất chiêu mạnh như bão. Từ đó, Trương Ngọc Giai nổi lên như một người rành các thế võ độc đáo nhất. Từ khi bước vào cung cấm, Trương Ngọc Giai không hề để xảy ra bất kỳ sơ sót nào trong tuốt luốt các chuyến bảo vệ nhà vua đi công du.

Nhà nghiên cứu võ học Trần Văn Tùng nhận định: Võ kinh do thị vệ Trương Ngọc Giai quản lý và chỉ huy liên tục được nhà vua ghé thăm để thị sát việc huấn luyện các thế võ, chỉ được ứng dụng để bảo vệ hoàng thất. Đội cẩm thị vệ mỗi tuần phải yết kiến với nhà vua ít nhất 3 lần và diễn tập các thế võ cho vua xem. Có những thế võ như “cắt gió trong đêm” rất được ưa chuộng trong triều Nguyễn. Thế võ này phải qua 5 năm tập luyện mới có thể thạo. Khi xuất chiêu thì nhanh hơn cả ngựa phi.

qua bao biến cố, khi các triều đại phong kiến sụp đổ, Đội trưởng cẩm y vệ Trương Ngọc Giai chết, võ sự Trương Thăng lên làm chưởng môn. Năm 1972, Võ kinh Vạn An Phái đẩy mạnh phát triển theo tôn chỉ “người Việt học võ Việt” nhằm tôn vinh văn hóa võ cổ truyền Việt Nam. Năm 2002 võ sư Trương Thăng qua đời, con trai của ông là võ sư Trương Quang Kim kế thừa, nối phát triển tinh hoa võ thuật cùng tôn chỉ do cha mình để lại.

đích cao nhất của học võ là rèn đức độ và sức khỏe. Qua nhiều thăng trầm nhưng giờ Võ kinh Vạn An Phái vẫn chiếm giữ vị thế đặc biệt quan yếu và được xem là cái nôi của võ cổ truyền nước ta. Bằng những thế võ độc đáo của mình, đến năm 2013 phái võ này được phát triển hầu khắp các nước trên thế giới như: Pháp, Úc, Ý, Mỹ...

Tổng hội Võ thuật cựu truyền Việt Nam tại Pháp từng nhiều lần mời Võ kinh Vạn An Phái sang Pháp trình diễn và thi đấu và được nhiều người Pháp thán phục. Hàng trăm võ sinh là người châu Âu, Bắc Mỹ cũng đăng ký được học môn võ học cổ truyền này của Việt Nam.

TS. Tony Saphon, người Pháp chuyên nghiên cứu võ cựu truyền Việt Nam cho biết: Mỗi lần Vạn An Phái sang nước Pháp hay các nước khác trình diễn ai cũng khâm phục ý thức tập dượt và sự tinh túy trong các thế võ của dân tộc Việt Nam.

Nói đến Võ kinh Vạn An Phái không thể không nhắc đến đặc trưng, thế mạnh của môn võ này so với các môn võ khác. Theo như võ sư Trương Quang Kim giải thích: Võ kinh là bộ đi theo tự có kinh thơ. Được tinh hóa bởi các đấng tiền nhân đã đi trước đúc kết để trở thành môn võ đặc biệt thi vào tiến sĩ võ. Khi luyện phải có những khẩu hiệu để luyện võ như: Nội tam hiệp, tích thần khí (tinh thần không rối loạn khí lực dồi dào), “ngoại tam hiệp, nhạn thủ thân” (dùng con mắt nhìn đối thủ).

Bước vào chương trình học võ sinh phải bái sư, nhãn pháp (luyện đôi mắt), luyện ngũ hành (luyện gân cốt, kim, mộc, thủy, hỏa, thổ). Kế đến luyện tấn pháp (chân vững như bàn thạch), luyện thủ pháp (44 bộ gồm gạt, đỡ, chỉ, chỏ, chưởng...). Luyện cước pháp, đỉnh cao là ẩu đả tàng vân. Đây cũng chính là biện pháp để đào tạo các thị vệ xưa. Muốn đạt đến tầm cao, các võ sư phải luyện thêm khí công, công phu y võ và đòi hỏi võ sinh phải có tâm đạo tốt (thiện làm, ác dứt khoát loại bỏ). Quá trình tập dượt gian khổ, bài bản như vậy vì thế Trưởng môn Trương Quang Kim cùng các võ sinh của mình có nội công rất thâm hậu. Đặc biệt qua việc tìm hiểu môn võ cũng như xúc tiếp với võ sư chúng tôi nhận thấy rằng vừa nói chuyện một cách thường ngày, chúng tôi vừa đặt tay lên thử ở bụng võ sư thì có cảm giác như một luồng khí từ bên trong truyền ra, dù rằng ông không vận khí công.

Thế võ quạt được nhiều quan võ triều đình xưa yêu thích vẫn được Vạn An Phái duy trì.

Thế võ quạt được nhiều quan võ triều đình xưa yêu thích vẫn được Vạn An Phái duy trì.

Một lòng gìn giữ

Theo võ sư Trương Quang Kim thì: Trước cảnh ngộ võ học cựu truyền dân tộc đang có nguy cơ mai một, dù kham khổ đến mấy cũng phải giữ giàng bởi nhiều thế võ có từ thời các thị vệ xưa được thế giới công nhận như “lôi phong phước” đây là thế võ dùng cho các vương tôn quân tử ở triều đình, quạt trở nên binh khí. Bài võ “Xuân thiên đề đao” cũng được trình diễn nhiều ở các nước trên thế giới. Thế giới xem đó vừa là sự độc đáo vừa là cách rèn sức khỏe, tránh tối đa mọi bệnh tật của người Việt. ước mơ của Võ kinh Vạn An Phái là có ngày được đưa môn võ này ra nước ngoài rộng rãi hơn nữa để vừa truyền thụ vừa truyền bá hình ảnh võ cổ truyền Việt Nam với bạn bè thế giới.

Cùng với Võ kinh Vạn An Phái thì Phái võ họ Hồ (ở Tây Sơn, Bình Định) cũng đóng góp nhiều giá trị tinh hoa cho võ học cổ truyền dân tộc Việt nam bình bài võ roi uyển chuyển và tinh tế.

Người đề xướng ra phái võ này là danh võ Hồ Ngạnh (1891 - 1976). Ông Ngạnh từng là giáo đầu về môn võ roi cho quân sĩ hộ thành Huế suốt nhiều năm liền. Sau này ông được phong chức tổng giáo đầu. Các đời sau truyền lại rằng, hầu như tất các các thị vệ, đệ tử được ông Ngạnh huấn luyện quanh năm không bị bệnh tật gì, ai cũng sống thọ trên 70 tuổi.

Võ sư Trương Quang Kim biểu diễn các bài võ là đặc trưng của Võ kinh Vạn An Phái.

Võ sư Trương Quang Kim trình diễn các bài võ là đặc trưng của Võ kinh Vạn An Phái.

Môn võ roi của võ tướng Hồ Ngạnh đến nay vẫn còn nhiều điều rất khó lý giải và đã được trình diễn trong các hội thi võ cổ truyền toàn quốc cũng như trình diễn cho các đoàn khách quốc tế thưởng thức. Cách dùng roi của phái võ này hoàn toàn dị biệt so với việc dùng thương hay gậy của các phái võ hiện giờ.

Nhiều năm làm tổng giáo đầu cho nhà Nguyễn ở đế đô Huế sau này ông Hồ Ngạnh có dự phong trào Cần Vương. Vua Bảo Đại từng khen mỗi đường roi của Hồ Ngạnh vung ra là tuyệt kỹ vô song. Khi còn làm tổng giáo đầu, chỉ có tên tướng cướp khét tiếng Dư Đành mới dám so tài với Hồ Ngạnh. Nhiều thế võ roi được Hồ Ngạnh sáng tạo ra từ chính quá trình lao động, đoàn luyện trong cuộc sống hàng ngày như: Roi Thái sơn, Roi Tấn nhất, Roi ngũ môn...

Sau khi Hồ Ngạnh mệnh chung, người cháu của ông có tinh thần võ học đặc biệt là Hồ Sừng tiếp kiến duy trì việc dạy võ cho người dân Bình Định đồng thời củng cố và giữ giàng võ đường Phái võ họ Hồ ở làng Thuận Truyền (xã Bình Thuận, Tây Sơn, Bình Định). Võ đường này cũng được xem là cái nôi của nền võ học dân tộc Việt Nam, tiếp thêm mê say võ dân tộc cho đời này tiếp nối đời khác.

Quyết không để tinh hoa dân tộc bị mai một, rất nhiều con cháu và học sinh của ông Hồ Sừng đã tiếp thụ, đoàn luyện và thông thuộc môn võ roi này như: Võ sư Hồ Cương, võ sư Hồ Bé (đang truyền dạy võ tại võ đường Phái võ họ Hồ). Từ võ đường này, nhiều võ sinh đã thành danh và trở thành cột trụ trong đội tuyển võ thuật tỉnh Bình Định như: Hồ Thứ, Hồ Thị Kim Tâm, Đức Thiệt, Hồ Thị Thảo...

Bài và ảnh: ĐÔNG HƯNG-VĂN HÙNG